Đóng

Hình sự

13Th6

TỘI BỨC TỬ THEO ĐIỀU 130 BLHS 2015

Bức tử là hành vi ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người khác khiến cho người đó tự sát. Việc nạn nhân tự sát bắt nguồn từ hành vi của người phạm tội đã gây ra cho họ. Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 thì tội bức tử thuộc một trong các tội có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người. Vậy tội bức tử là gì? Hình phạt đối với tội danh này như thế nào? Hãy cùng LUẬT HUY HOÀNG làm rõ vấn đề trên dưới bài viết sau.

1. Tội bức tử là gì?

Tội bức tử là tội xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ và quy định tại Điều 130 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) như sau:

“Điều 130. Tội bức tử

1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.”

Như vậy, có thể hiểu bức tử là hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình.

Biểu hiện như: Đánh đập, bỏ đói, bắt nạn nhân làm việc nặng nhọc quá mức cho phép, xúc phạm nghiêm trọng danh dự nạn nhân… Hành vi này thường lặp đi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc nạn nhân tự sát.

2. Khung hình phạt đối với tội bức tử:

Người phạm tội bức tử thực hiện hành vi quy định tại Điều 130 BLHS 2015 phải chịu trách nhiệm hình sự theo 02 khung hình phạt như sau:

Khung 1: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với trường hợp người phạm tội đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát,

Khung 2: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm đối với các trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trên nhưng thuộc một trong 2 trường hợp sau:

+ Đối với 02 người trở lên

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

3. Dấu hiệu pháp lý cấu thành tội bức tử

a. Khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tính mạng của con người được pháp luật hình sự bảo vệ, quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ.

b. Chủ thể của tội phạm:

Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

c. Mặt chủ quan của tội phạm:

Về lỗi: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý gián tiếp hoặc do lỗi vô ý.

– Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể khiến cho người bị hại tự sát, thấy trước hậu quả là người bị hại sẽ tự sát của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.

– Lỗi vô ý:

+ Lỗi vô ý do quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể khiến cho người bị hại tự sát nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

+ Lỗi vô ý do quá cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể khiến cho người bị hại tự sát, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

d. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

+ Hành vi đối xử tàn ác người lệ thuộc mình: thường xuyên đánh đập, bỏ đói, bóc lột sức lao động khiến nạn nhân tổn thương về mặt thể xác đến mức có thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ nạn nhân.

+ Hành vi thường xuyên ức hiếp người lệ thuộc mình: xử sự không công bằng, xâm phạm quyền hoặc lợi ích chính đáng của nạn nhân, thường kéo dài là lặp lại nhiều lần.

+ Hành vi ngược đãi người lệ thuộc mình: đối xử tệ bạc, cho ăn đồ bẩn, ôi thiu, cho mặc đồ rách rưới, không đủ ấm, … trong khi có điều kiện tốt hơn để thực hiện.

+ Hành vi làm nhục người lệ thuộc mình: xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân, chửi rủa thậm tệ, bôi nhọ danh dự, miệt thị, nhạo báng hoặc làm một số hành vi bỉ ổi không thể chấp nhận.

Hậu quả:

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người lệ thuộc vào người phạm tội có hành vi tự sát mà không phụ thuộc vào việc người tự sát có chết hay không. Chỉ cần nạn nhân có hành vi tự sát là tội phạm hoàn thành, còn việc nạn nhân chết hay được cứu sống chỉ có ý nghĩa xem xét khi quyết định hình phạt.

Trong thực tế, có trường hợp tâm tư của người tự sát khá phức tạp như: vừa đau ốm, vừa thất tình lại bị cha đánh chửi, rồi tự sát. Vì vậy, phải xác định thật rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục với hành vi tự sát thì mới xác định được có tội bức tử hay không.

4. Phạm tội bức tử cần thỏa mãn các điều kiện:

Từ quy định tại Điều 130 BLHS 2015 về tội bức tử, có thể phân tích được người phạm tội bức tử cần thỏa mãn những điều kiện sau đây:

+ Người bị hại phải là người bị lệ thuộc vào người phạm tội:

Căn cứ khoản 10 Điều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, quy định như sau:

“Người lệ thuộc quy định tại khoản 1 Điều 143 và đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình quy định tại khoản 1 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người bị hại bị lệ thuộc vào người phạm tội về vật chất (ví dụ: người bị hại được người phạm tội nuôi dưỡng, chu cấp chi phí sinh hoạt hàng ngày…) hoặc lệ thuộc về tinh thần, công việc, giáo dục, tín ngưỡng (ví dụ: người bị hại là người lao động làm thuê cho người phạm tội; người bị hại là học sinh trong lớp do người phạm tội là giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn…).”

Như vậy, căn cứ quy định trên thì người lệ thuộc được hiểu là người bị lệ thuộc về vật chất hoặc lệ thuộc về tinh thần, công việc, giáo dục, tín ngưỡng; là người dựa vào người khác trong cuộc sống về các mặt vật chất hay tinh thần như: lệ thuộc về kinh tế, bị ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, …

Mối quan hệ lệ thuộc giữa người bị hại và người phạm tội là yếu tố bắt buộc để xác định hành vi của một người có phạm tội bức tử hay không.

+ Người bị hại tự bản thân mình tước đoạt tính mạng của mình:

Nạn nhân dùng những phương thức khác nhau, tự tước đoạt tính mạng, chẳng hạn như: thắt cổ, uống thuốc độc, nhảy xuống biển, …Nếu nạn nhân không phải tự sát mà nhờ đến người khác giúp thì người có hành vi ngược đãi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bức tử.

+ Nguyên nhân trực tiếp của việc nạn nhân tự sát là do hành vi của người phạm tội:

Nếu nạn nhân bị ngược đãi tàn ác, hoặc bị làm nhục (ví dụ như: Bị đánh đập, bị bỏ đói, bỏ rét, bắt làm việc nặng nhọc, quá sức, không cho học hành, vui chơi…) nhưng không tự sát thì người đã đối xử như vậy với nạn nhân không được xem là phạm tội bức tử. Hậu quả tự sát có chết người hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên, nguyên nhân và động cơ thúc đẩy nạn nhân đến chỗ tiêu cực, bế tắc đã tự sát là do hành vi của người phạm tội gây ra.

+ Chỉ cần nạn nhân có hành vi tự sát là tội phạm hoàn thành, còn việc nạn nhân chết hay được cứu sống chỉ có ý nghĩa xem xét khi quyết định hình phạt. Ngoài ra, có những trường hợp có thể xem xét bị truy tố hoặc không truy tố người có hành vi bức tử nếu nạn nhân không bị chết.

5. Phân biệt tội bức tử và tội hành hạ người khác

Giống nhau

Đều có hành vi khách quan là đối xử tàn ác, ước hiếp, làm nhục, … người lệ thuộc mình. Hành vi này được lặp đi lặp lại nhiều lần và kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Xâm phạm đến quyền được bảo hộ sức khỏe, tự do, danh dự của người bị lệ thuộc.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Khác nhau

Tiêu chí so sánh Tội bức tử Điều 130 BLHS Tội hành hạ người khác Điều 140 BLHS
Lỗi Có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý (vô ý do quá tự tin hoặc do cẩu thả) Lỗi cố ý
Đối tượng tác động Người lệ thuộc mình Người lệ thuộc mình nhưng không phải ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình.
Hậu quả Hành vi tự sát (Không nhất thiết phải có hậu quả chết người) Không dẫn đến hậu quả làm nạn nhân tự sát
Khung hình phạt – Khung 1: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với trường hợp người phạm tội đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát,
  – Khung 2: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm đối với các trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trên nhưng thuộc một trong 2 trường hợp sau:
+ Đối với 02 người trở lên
+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai
– Khung 1: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm trong trường hợp người phạm tội đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này.
– Khung 2: phạt tù từ 01 năm đến 03 năm trong các trường hợp sau đây
+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 11% trở lên;
+ Đối với 02 người trở lên  

6. Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng

Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết

Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu

Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án, …

Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.

Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:

LUẬT HUY HOÀNG
📞 Điện thoại: 0944580222
📧 Email: tuvan@luathuyhoang.vn
🌐 Website: https://luathuyhoang.vn/
🏘️ Địa chỉ:  Tầng 2, LK05 – Khu đô thị 54, ngõ 85 Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội