
09Th3
TỘI VI PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG ĐIỀU 182 BLHS 2015
Nguyên tắc một vợ – một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản hàng đầu trong chế độ hôn nhân gia đình tại Việt Nam. Để đảm bảo cho nguyên tắc này được thực thi một cách có hiệu quả, pháp luật đã đặt ra những quy định cụ thể cũng như biện pháp xử lý đối với những hành vi vi phạm. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ – một chồng ngày càng phổ biến, không chỉ giữa những người khác giới mà còn có ở những người cùng giới. Bài viết dưới đây của Luật Huy Hoàng sẽ phân tích và làm rõ tội danh “Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng”
1. Một số khái niệm
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng:
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình bao gồm: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.
Như vậy, “một vợ một chồng” là một trong những nguyên tắc cơ bản hàng đầu của chế độ hôn nhân và gia đình. Theo đó, cá nhân đã kết hôn chỉ được có một vợ hoặc một chồng và trong thời kì hôn nhân không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Người đang có vợ hoặc có chồng được hiểu là người đã kết hôn (có đăng ký kết hôn hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận) và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng một quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (về công nhận thuận tình ly hôn, xử cho ly hôn hay tiêu hôn vì vi phạm điều kiện kết hôn của pháp luật) hoặc một bên chết, mất tích đã bị tòa án tuyên bố mất tích, …
Người chưa có vợ, có chồng là người chưa từng kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng đã chấm dứt hôn nhân.
Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng: là việc một người đã có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ có chồng mà lại cố tình chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đã có vợ có chồng.
Việc chung sống này có thể công khai hoặc không công khai, nhưng phải thể hiện ở các dấu hiệu như: Thời gian chung sống với nhau tương đối dài; có tài sản chung; đã có con chung với nhau; được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng …
2. Quy định của pháp luật về Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015) cụ thể như sau:
“Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Như vậy, không chỉ người đã kết hôn sống chung với khác bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự mà ngay cả người chưa kết hôn nhưng sống chung với người mà mình đã biết là có vợ hoặc có chồng cũng sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật
3. Cấu thành tội phạm tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Chủ thể:
Chủ thể của tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là chủ thể thường. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự là chủ thể của tội này
Khách thể:
Tội phạm xâm phạm đến chế độ hôn nhân gia đình một vợ – một chồng được pháp luật bảo vệ.
Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Những người thực hiện hành vi nói trên do bị lừa dối hoặc vô ý thì không phạm vào tội này.
Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan:
+ Hành vi của người đang trong thời kỳ hôn nhân nhưng lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác;
+ Hành vi của người không phải đang trong thời kỳ hôn nhân nhưng lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ
Hậu quả của hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng:
+ Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
+ Gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe cho cá nhân cho những người trong và ngoài cuộc như: vợ, chồng, nam nữ sống chung, các con;
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại: Hậu quả thiệt hại phải do nguyên nhân từ các hành vi vi phạm quy định về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng, không phải do các nguyên nhân khác. Nếu hành vi vi phạm không gây hậu quả, hậu quả không do hành vi vi phạm gây ra thì không cấu thành tội phạm vi phạm các quy định về vi phạm chế độ một vợ một chồng.
*Hình phạt:
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 với khung hình phạt như sau:
Khung 1:
Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
– Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Khung 2:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
– Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
– Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
4. Ngoại tình với người cùng giới có vi phạm pháp luật không?
Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào định nghĩa thế nào là ngoại tình nhưng qua thực tế có thể thấy ngoại tình được hiểu là một người đã kết hôn nhưng lại có quan hệ tình cảm, chung sống như vợ chồng với người khác,… Có thể nói, ngoại tình không những trái với đạo đức xã hội mà còn vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trong những trường hợp ngoại tình thông thường, nếu thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ một chồng thì có thể bị xử lý hình sự. Vậy ngoại tình với người cùng giới tính có vi phạm pháp luật?
Đối với vấn đề này, hiện nay có hai luồng quan điểm như sau:
Thứ nhất, ngoại tình với người cùng giới vi phạm pháp luật.
Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác…”. Theo đó, “người khác” ở đây không phân biệt nam hay nữ, hay bất kỳ giới tính nào khác nên ngoại tình với người cùng giới vẫn có thể bị xử lý hình sự.
Thứ hai, ngoại tình với người cùng giới không vi phạm pháp luật.
Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” nên việc kết hôn với người khác theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là không thể xảy ra. Đồng thời, việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới cũng rất khó chứng minh. Vì vậy, ngoại tình với người cùng giới không vi phạm pháp luật.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên đối với hai luồng quan điểm trên vẫn chưa thể đưa ra kết luận quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai. Đây là một vấn đề cần được các nhà làm luật quan tâm hơn nữa bởi lẽ khi mà xã hội phát triển, những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền về giới tính cũng càng được tôn trọng và bảo vệ nhiều hơn.
5. Xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
“Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”
Như vậy, người vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng sẽ bị xử phạt hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Trên đây là bài tư vấn của LUẬT HUY HOÀNG về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng. Hy vọng bài viết mang đến thông tin bổ ích cho quý khách hàng. Mọi thắc mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ chúng tôi
6. Dịch vụ tư vấn pháp lý hình sự của Luật Huy Hoàng
Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
+ Tư vấn, giải đáp thắc mắc pháp lý liên quan đến vấn đề hôn nhân gia đình
+ Soạn thảo đơn khởi kiện theo yêu cầu của khách hàng
+ Thay mặt khách hàng trao đổi, làm việc với Tòa án
+ Đại diện cho khách hàng tham gia tranh tụng tại tòa, …
Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.
Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:
