
20Th5
BẦU CỬ LÀ GÌ? TRƯNG CẦU Ý DÂN LÀ GÌ? TỘI LÀM SAI LỆCH KẾT QUẢ BẦU CỬ, KẾT QUẢ TRƯNG CẦU Ý DÂN BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Bầu cử là một quyền quan trọng của nhân dân, được ghi nhận trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Việc bầu cử đại biểu quốc hội hay bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhằm mục đích lựa chọn những người có đủ đức và tài, đại diện cho nhân dân. Chính vì lẽ đó, mọi hành vi làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cùng Luật Huy Hoàng tìm hiểu vấn đề pháp lý trên qua bài viết dưới đây.
1. Bầu cử là gì? Trưng cầu ý dân là gì?
Bầu cử là phương thức lựa chọn người làm đại biểu, thay mặt thực hiện quyền lực nhà nước trong các xã hội dân chủ theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Cử tri bỏ phiếu lựa chọn người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực nhà nước, chế định quan trọng của luật nhà nước, thể hiện quyền cơ bản của công dân tham gia xây dựng chính quyền nhân dân.
Luật bầu cử đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân quy định bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Quy định quyền bầu cử, ứng cử của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc tòa án nhân dân tước các quyền đó.
Trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Công dân từ đủ 18 tuổi trở lên, tính đến ngày trưng cầu ý dân, có quyền bỏ phiếu để biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân trừ trường hợp:
– Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.
– Người đã có tên trong danh sách cử tri nếu đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị kết án tử hình, phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì UBND cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri
2. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân
Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, trưng cầu ý dân được quy định tại Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015) cụ thể:
“Điều 161. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân
1. Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
3. Cấu thành tội pham tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân:
a. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi làm sai lệch kết quả bầu cử là bằng những thủ đoạn khác nhau làm cho kết quả cuối cùng của cuộc bầu cử không phản ánh đúng với thực tế khách quan, xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của công dân.
Kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là đại diện cho ý chí, mong muốn của đại bộ phận công dân. Làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là hành vi xâm phạm đến quyền bầu cử, quyền ứng cử và quyền biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân của công dân. Hiến pháp năm 2014 quy định tại Điều 27 và Điều 29 như sau:
“Điều 27.
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”
“Điều 29.
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.”
Quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân còn được cụ thể hoá bởi những quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, cũng như các quy định cụ thể về việc tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân được quy định tại Luật Trưng cầu ý dân năm 2015.
Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân của công dân và các quy định pháp luật về bầu cử, ứng cử hay trưng cầu ý dân.
b. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là hành vi:
+ Giả mạo giấy tờ là hành vi làm phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu ý dân giả hoặc dùng phiếu bầu cử, phiếu trưng cầu ý dân đã bị sửa chữa kết quả bầu cử trên các phiếu bầu, thêm hoặc bớt phiếu bầu cử với mục đích làm sai lệch kết quả bầu cử theo ý mình.
+ Gian lận phiếu là hành vi dối trá trong việc thêm, bớt phiếu bầu, dẫn đến kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân không chính xác như: Thêm phiếu trúng cử cho người mà mình quan tâm hoặc bớt phiếu trúng cử đối với người mà mình không muốn trúng cử.
+ Dùng thủ đoạn khác là hành vi ngoài hành vi giả mạo giấy tờ hoặc gian lận phiếu nhưng cũng làm sai lệch kết quả bầu cử. Đây là quy định mở, nhằm đề phòng những trường hợp không phải là giả mạo giấy tờ hoặc gian lận phiếu bầu nhưng vẫn làm sai lệch kết quả bầu cử. Thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả bầu cử, trong thực tế xảy ra rất đa dạng như: mua chuộc, dụ dỗ, cưỡng ép… người có trách nhiệm trong việc tổ chức giám sát việc bầu cử để những người này thực hiện hành vi giả mạo giấy tờ hoặc gian lận phiếu bầu để làm sai lệch kết quả bầu cử.
Hậu quả của tội làm sai lệch kết quả bầu cử là những thiệt hại do hành vi giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác gây ra, mà trước hết là kết quả bầu cử bị sai lệch, không đúng với kết quả thực. Ngoài ra, còn gây ra những thiệt hại khác về vật chất hoặc phi vật chất.
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm này, vì chỉ cần người phạm tội đã có hành vi giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử là tội phạm đã hoàn thành. Việc kết quả bầu cử có bị làm sai lệch hay không chỉ có ý nghĩa đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi quyết định hình phạt.
c. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự có nhiệm vụ thực hiện công tác bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân.
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, đối với những người khác, có thể là chủ thể trong trường hợp có đồng phạm.
Người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử là người được giao nhiệm vụ tổ chức việc bầu cử như: Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng bầu cử; Trưởng ban, Phó trưởng ban giám sát bầu cử; uỷ viên Uỷ ban bầu cử; nhân viên giúp việc trong ban bầu cử, tổ bầu cử… Nói chung, những người được giao nhiệm vụ trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử và do có trách nhiệm này nên mới làm sai lệch được kết quả bầu cử.
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội làm sai lệch kết quả bầu cử thực hiện do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi làm sai lệch kết quả bầu cử là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Người phạm tội làm sai lệch kết quả bầu cử có nhiều động cơ khác nhau; động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nên việc xác định động cơ phạm tội của người phạm tội chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.
Mục đích của người phạm tội là mong muốn hoặc bỏ mặc kết quả bầu cử bị làm sai lệch. Tuy nhiên, mức độ có khác nhau, có người mong sai lệch nhiều có người chỉ mong sai lệch một phiếu để người mà mình quan tâm trúng cử.
4. Hình phạt đối với người phạm tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân
Điều 161 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:
– Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân.
– Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;
+ Dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân.
Trên đây là bài tư vấn của LUẬT HUY HOÀNG về tội làm sai lệch kết quả bầu cử bị xử lý như thế nào? Hy vọng bài viết mang đến thông tin bổ ích cho quý khách hàng. Mọi thắc mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ chúng tôi
5. Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng
Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
+ Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết
+ Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu
+ Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án,
…
Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.
Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:
