Đóng

Chuyên Mục Khác

ÁN TÍCH VÀ XÓA ÁN TÍCH MỚI NHẤT

25Th10

ÁN TÍCH VÀ XÓA ÁN TÍCH MỚI NHẤT

Ngày nay, trong một số vấn đề của cuộc sống thì cần yêu cầu lý lịch cá nhân trong sạch, không có án tích,…thì mới được xem xét, ví dụ quyền hành nghề, ứng cử,…hay xuất khẩu lao động sang nước ngoài. Tuy nhiên, không phải ai đã từng vi phạm cũng không được xem xét bởi pháp luật có quy định về việc xóa án tích cho người vi phạm, người được xóa án tích thì coi như chưa bị kết án. Việc ghi nhận án tích và xóa án tích được quy định cụ thể ở Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015).

1. Án tích là gì?

Án tích là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi và lưu lại trong lí lịch tư pháp trong thời gian luật định. Án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn. Sau một thời gian và kèm theo điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật, án tích sẽ được xóa đương nhiên hoặc được xóa theo quyết định của Tòa án.

Đồng thời, án tích còn được pháp luật hình sự quy định là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị kết án để xác định cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng trong vấn đề định tội đối với người có án tích ở phần các tội phạm; là một trong các căn cứ để xem xét quyết định hình phạt khi xét xử thông qua việc đánh giá người có án tích là người có nhân thân xấu, có thể phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm nên đối với người phạm tội đang mang án tích luôn phải gánh chịu những hệ quả pháp lý bất lợi hơn so với những người bình thường phạm tội.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp mặc dù vi phạm nhưng cũng không được xem là có án tích, điều này ghi nhận tại Khoản 2 Điều 69 BLHS 2015 “Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.”

Việc cá nhân chấp hành các hình phạt và đáp ứng đủ điều kiện để được xóa án tích thì sẽ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như thời điểm chưa phạm tội, trừ những ngành nghề có quy định riêng. Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án.

2. Điều kiện để xóa án tích

Không phải hành vi phạm tội nào cũng có điều kiện xóa án tích như nhau, mà tùy vào mức độ vi phạm cũng như tội danh mà xem xét điều kiện để xóa án tích. Có 2 trường hợp về xóa án tích là đương nhiên xóa án tích và Xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

Về đương nhiên được xóa án tích:

BLHS 2015 có quy định tại Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.”

Theo đó, người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015. 

Về xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

Khác với đương nhiên được xóa án tích, đối với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án, người bị kết án phải tiến hành thực hiện các thủ tục tại Tòa án và chỉ khi có quyết định của Tòa án thì mới được coi là đã được xóa án tích.

Căn cứ Điều 71 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định

Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.”.

Quy định này xuất phát từ tính chất, mức độ nguy hiểm cao cho xã hội đối với những hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, nên người bị kết án bên cạnh việc phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hơn so với những tội phạm khác (như không áp dụng chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, không áp dụng chế định thời hiệu thi hành bản án…), thì cũng không được xem xét đương nhiên xóa án tích mà việc xóa án tích này phải được cơ quan Tòa án, cơ quan thực hiện quyền tư pháp xem xét, quyết định với những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ.

Điểm giống với đương nhiên được xóa án tích là người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định.

3. Hồ sơ, thủ tục xóa án tích

Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm mà hồ sơ thủ tục xóa án tích cũng tương ứng. Với các trường hợp đương nhiên xóa án tích, trình tự thủ tục nộp đơn yêu cầu khá là dễ dàng hơn.

Thủ tục đương nhiên xóa án tích:

Khoản 4 Điều 70 BLHS 2015 quy định “Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này”. Khoản 1 Điều 369 BLTTHS 2015 quy định “1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích.”

Theo đó, Trung tâm lý lịch tư pháp Quốc gia – Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn cho các Sở Tư pháp trực tiếp quy định các thủ tục chi tiết để xóa án tích cho các trường hợp được đương nhiên xóa án tích. Những người muốn làm thủ tục đương nhiên xóa án tích sẽ nộp đơn tới Sở Tư pháp của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi mình thường trú.Theo quy định của luật lý lịch tư pháp thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm Trung tâm lý lịch tư pháp và Sở tư pháp.

Sở Tư pháp quy định thủ tục đương nhiên xóa án tích như sau:

Thứ nhất, nộp hồ sơ xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích

Hồ sơ gồm có:

– Chứng minh thư và sổ hộ khẩu bản sao công chứng.

– Trích lục hoặc bản sao Bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, nếu đã xét xử tại cấp phúc thẩm thì cung cấp cả trích lục hoặc bản sao Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm.

– Căn cứ vào hình phạt chính tại Bản án, công dân phải nộp một trong các giấy tờ (bản chính) sau đây:

+ Giấy chứng nhận đặc xá do Trại giam nơi thi hành án cấp (trường hợp bị xử phạt tù giam nhưng được đặc xá).

+ Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù do Trại giam nơi thi hành án cấp hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (trường hợp bị xử phạt tù giam và đã chấp hành xong hình phạt tù).

+ Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo do Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận, huyện, thị xã hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (trường hợp bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo).

+ Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ do Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận, huyện, thị xã cấp hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (trường hợp bị xử phạt cải tạo không giam giữ).

– Biên lai nộp tiền án phí, tiền phạt và các nghĩa vụ dân sự khác như: Bồi thường, truy thu,… trong bản án hình sự hoặc Giấy xác nhận kết quả thi hành do Cơ quan thi hành án dân sự cấp hoặc các giấy tờ khác có liên quan đến việc xác nhận đã nộp tiền án phí, tiền phạt và các nghĩa vụ dân sự khác.

Thứ hai, tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch Tư pháp

Thứ ba, nộp lệ phí hồ sơ

Sau khi công dân nộp đầy đủ các giấy tờ nêu trên, Sở Tư pháp sẽ gửi văn bản yêu cầu xác minh cho UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc sau khi chấp hành xong bản án về việc người đó có bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian đang có án tích hay không.

UBND cấp xã, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm gửi văn bản thông báo kết quả xác minh (theo mẫu quy định) cho Sở Tư pháp trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu xác minh.

Ngay sau khi nhận được văn bản thông báo kết quả xác minh của UBND cấp xã, cơ quan, tổ chức, Sở Tư pháp sẽ giải quyết việc xóa án tích cho công dân.

Thủ tục xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

Do tính chất nguy hiểm của đối tượng được xóa án tích theo quyết định của Tòa án mà thủ tục xóa án tích trong trường hợp theo quyết định của Tòa án cũng phức tạp hơn trường hợp đương nhiên xóa án tích.

Khoản 2 Điều 369 BLTTHS năm 2015 đã quy định:

“2. Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật hình sự thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án.

Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.”

Như vậy, giấy tờ pháp lý chứng minh việc được xóa án tích trong trường hợp này là Quyết định xóa án tích do Tòa án cấp sơ thẩm ban hành.

Thủ tục xóa án tích theo quyết định của Tòa án được quy định cụ thể như sau:

+ Gửi đơn xin xóa án tích kèm hồ sơ chứng minh đủ điều kiện xóa án tích

Người muốn xin xoá án tích phải làm đơn gửi cho Toà án đã xử sơ thẩm tội phạm cũ của mình và kèm theo đơn, phải có những giấy tờ chứng minh họ có đủ những điều kiện xoá án tích:

Bao gồm bản sao bản án, biên lai nộp tiền án phí và các khoản về dân sự trong vụ án bồi thường thiệt hại, sung công quỹ…;

Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù, xác nhận của cơ quan công an cấp huyện với nội dung từ khi chấp hành xong bản án đến nay chưa phạm tội mới;

Đồng thời cũng phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi họ thường trú về thái độ chấp hành chính sách, pháp luật và thái độ lao động của họ ở địa phương.

+ Tòa án nhận đơn và kiểm tra điều kiện xóa án tích

Sau khi nhận đơn, Tòa án kiểm tra những điều kiện được xoá án tích và nếu cần thì tiến hành những biện pháp xác minh.

Nếu hồ sơ đầy đủ thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp để Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến về người bị kết án có đủ điểu kiện được xoá án tích hay không.

Trong thời hạn 10 ngày (BLTTHS 2015 quy định 05 ngày) kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện trưởng Viện Kiểm sát phải phát biểu ý kiến và gửi trả hồ sơ cho Toà án. Tòa án cấp sơ thẩm sẽ lập một Hội đồng xét duyệt do Chánh án chủ trì để quyết định xem có đủ điều kiện để xóa án tích hay không.

Chánh án có quyền ra Quyết định xoá án tích hoặc bác đơn xin xoá án. Quyết định xoá án tích phải gửi cho người bị kết án, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi người được xoá án thường trú. Trường hợp bác đơn xin xoá án tích thì phải nói rõ lý do.

+ Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định xóa án tích

Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, đối với quyết định xoá án tích. Nếu quyết định của Chánh án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sai lầm thì có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

+ Thời hạn xin xóa án tích lần tiếp theo trong trường hợp bị bác đơn xin xóa án tích

Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích. Nếu bị bác đơn lần thứ hai thì phải sau hai năm mới lại được xin xóa án tích. Những lần sau xin xóa án tích thì người đã bị kết án chỉ cần nộp thêm những giấy tờ chứng minh đã khắc phục những thiếu sót trước đây đã là nguyên nhân làm cho họ chưa được xóa án tích.

Như vậy, thủ tục ra Quyết định xóa án tích được quy định chặt chẽ hơn với sự phối hợp, tham khảo ý kiến của nhiều cơ quan có thẩm quyền liên quan (Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, Công an, Ủy ban nhân dân…). Điều này thể hiện sự thận trọng trong việc xóa án tích đối với những tội phạm có tính nguy hiểm cao này.

4. DỊCH VỤ TƯ VẤN XÓA ÁN TÍCH CỦA LUẬT HUY HOÀNG

Luật Huy Hoàng cung cấp các dịch vụ:

– Tư vấn chi tiết điều kiện xóa án tích, xem xét hồ sơ và tính chất vụ việc, đưa ra đề xuất và kiến nghị về phương thức giải quyết;

– Hướng dẫn, cùng khách hàng chuẩn bị và nộp hồ sơ gửi cho cơ quan có thẩm quyền;

– Cùng khách hàng thực hiện các thủ tục, giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc (nếu có). Đại diện khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước và giải quyết khi có yêu cầu. 

Trên đây là bài viết về Án tích và xóa án tích, hy vọng rằng bài viết này sẽ mang đến những nội dung thật sự bổ ích đến khách hàng khi chuẩn bị hồ sơ và thực hiện thủ tục trên thực tế. Nếu cần chúng tôi hỗ trợ dịch vụ hãy liên hệ ngay với Luật Huy Hoàng theo thông tin dưới đây.

LUẬT HUY HOÀNG
● 📞 Điện thoại: 0944580222
● 📧 Email: tuvan@luathuyhoang.vn
● 🌐 Website: https://luathuyhoang.vn/
● 🏘️ Địa chỉ:  Tầng 2, LK05 – Khu đô thị 54, ngõ 85 Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội