
27Th5
THẾ NÀO LÀ KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM? NGƯỜI KHÔNG TỐ GIÁC TÔI PHẠM BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?
Công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm được Đảng và Nhà nước tập trung chỉ đạo quyết liệt, không có vùng cấm. Trong những năm qua, cơ quan chức năng đã triệt phá nhiều tụ điểm, đường dây, băng nhóm tội phạm nguy hiểm; điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh các hành vi phạm tội, đặc biệt là các vụ án trọng điểm, phức tạp về kinh tế, tham nhũng lớn, tỉ lệ thu hồi tài sản tăng lên rõ rệt; tội phạm được kiềm chế; nhiều nội dung đạt và vượt các chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ đề ra. Trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm, việc phát hiện tội phạm càng sớm càng giảm thiểu tối đa hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội. Tuy nhiên, có không ít người mang tâm lý sợ hãi bị trả thù, tâm lý bang quan trướng mọi việc của xã hội dẫn đến tình trạng biết tội phạm xảy ra nhưng không tố giác. Do đó, pháp luật Hình sự đã đưa ra quy định liên quan đến “Không tố giác tội phạm”. Cùng Luật Huy Hoàng theo dõi bài viết dưới đây để làm rõ vấn đề pháp lý trên.
1.Thế nào là không tố giác tội phạm?
Không tố giác tội phạm là biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không trình báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn hoặc kịp thời điều tra phát hiện tội phạm, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý người phạm tội. Hành vi không tố giác tội phạm luôn ở hình thức không hành động, trái ngược với hành vi che dấu tội phạm.
2. Quy định của pháp luật về tội không tố giác tội phạm
Tội không tố giác tội phạm được quy định chi tiết tại Điều 19 và Điều 390 Bộ luạt Hình sự 2015, sử đổi bổ sung 2017 (Sau đây gọi tắt là BLHS 2015), cụ thể:
“Điều 19. Không tố giác tội phạm
1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”
Theo đó, không phải hành vi không tố giác tội phạm nào cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. chỉ những hành vi không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
“Điều 390. Tội không tố giác tội phạm
1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”
Theo đó, chỉ những người không tố giác tội phạm chuẩn bị phạm tội (theo Khoản 2,3 Điều 14) hoặc tội quy định trong Điều 389 Tội che giấu tội phạm mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Đây là những tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, nếu không tố giác sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng. Khung hình phạt với với tội này là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Trường hợp người thân thích không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “không tố giác tội phạm”. Bao gồm “ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội”. Xuất phát từ, truyền thống đùm bọc, một nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, tuy nhiên không phải mọi trường hợp đều có thể miễn trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác của người thân thích. Bởi các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu không xử lý kịp thời sẽ đem đến hậu quả lớn hơn nữa. Do đó, trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII (Các tội xâm phạm anh ninh quốc gia) của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, dù là người thân thích vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 390 Bộ luật này.
3. Cấu thành tội phạm tội không tố giác tội phạm
a. Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án.
b. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở dạng không hành động. Nghĩa là người phạm tội không thực hiện bất cứ một hành vi nào.
Hành vi không tố giác tội phạm được thể hiện như: Không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền biết về tội phạm đang được chuẩn bị; đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà mình biết rõ.
Điều 390 BLHS 2015 không quy định rõ thời hạn tố giác tội phạm là bao nhiêu kể từ khi người phạm tội biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện. Tuy nhiên, khi biết rõ tội phạm đang chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện được thì cần tố giác ngay cho cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền ngăn chặn tội phạm không xảy ra.
Việc một số người biết rõ tội phạm đang chuẩn bị, đang thực hiện nhưng không tố giác; sau khi tội phạm được thực hiện đã tố giác với cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền, nhờ vậy đã bắt được người phạm tội, đưa ra xét xử thì người có hành vi không tố giác tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện không phải là hành vi phạm tội.
Nếu hành vi tố giác tội phạm quá muộn, nội dung tố giác không có ý nghĩa giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm hoặc cơ quan tiến hành tố tụng đã đủ bằng chứng chứng minh tội phạm thì người có hành vi tố giác quá muộn đó có thể vẫn bị coi là hành vi phạm tội.
Hậu quả: Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác, không phụ thuộc vào hậu quả của việc không tố giác đó.
c. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuôi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và xử lý tội phạm nhưng vẫn không tố giác.
4. Hình phạt đối với người phạm tội không tố giác tội phạm
Điều 390 Bộ luật hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:
– Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
5. So sánh tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm
Tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:
*Giống nhau:
– Tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan tiến hành tố tung; quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân.
– Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự
– Tội phạm thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
– Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội có hành vi phạm tội, không phụ thuộc vào hậu quả.
*Khác nhau
| Tiêu chí | Tội che giấu tội phạm | Tội không tố giác tội phạm |
| Căn cứ pháp lý | Điều 389 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 | Điều 390 BLHS 2016, sửa đổi bổ sung 2017 |
| Hành vi khách quan | Hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở dạng hành động: Che giấu tội phạm + Che giấu người phạm tội + Che giấu các dấu vết của tội phạm + Che giấu các tang vật của tội phạm | Hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở dạng không hành động: Người phạm tội không thực hiện bất cứ một hành vi nào: Không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền hoặc những người có thẩm quyền biết về tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà mình biết rõ. |
| Nhận thức của người phạm tội | Không biết trước được hành vi phạm tội và không hứa hẹn gì với người thực hiện hành vi phạm tội | Người phạm tội biết rõ tội phạm đang chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng không tố giác cho cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền để ngăn chặn tội phạm xảy ra |
| Hình phạt | Điều 389 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau: – Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại một số điều quy định tại Bộ luât Hình sự thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm; – Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. | Điều 390 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau: – Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. – Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt. |
Trên đây là bài tư vấn của LUẬT HUY HOÀNG về tội không tố giác tội phạm. Hy vọng bài viết mang đến thông tin bổ ích cho quý khách hàng. Mọi thắc mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ chúng tôi
6. Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng
Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.
– Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết
– Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu
– Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án, …
Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.
Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:
