
12Th6
TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN ĐIỀU 170 BLHS 2015
Tội cưỡng đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu. Những năm gần đây, tội phạm này diễn ra ngày càng phổ biến, với nhiều thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vậy cưỡng đoạt tài sản là gì? Phạm tội cưỡng đoạt tài sản bị xử phạt như thế nào? Hãy cùng Luật Huy Hoàng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
1. Cưỡng đoạt tài sản là gì? Quy định của pháp luật về cưỡng đoạt tài sản?
Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017(sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) như sau:
“Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
2. Cấu thành tội phạm tội cưỡng đoạt tài sản
Chủ thể
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự đối với Khoản 1 Điều 170; Đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự nếu phạm tội tại Khoản 2,3,4 Điều 170 BLHS 2015.
Khách thể của tội phạm
Tội cưỡng đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu nhưng chủ yếu là quan hệ sở hữu. Trong đó, việc xâm hại đến quan hệ nhân thân không phải mục đích của tội phạm mà chỉ đe dọa tinh thần làm cho người bị cưỡng đoạt phải giao tài sản.
Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Theo đó, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi đó với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Theo đó, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi đó với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội có thể có trước khi thực hiện hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản, nhưng cũng có thể xuất hiện trong hoặc sau khi đã thực hiện hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài
Mặt khách quan của tội phạm
* Về hành vi khách quan: Người phạm tội Cưỡng đoạt tài sản có thể thực hiện một trong các hành vi sau:
– Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực
Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng sức mạnh thể chất tấn công người quản lý tài sản với ý thức làm cho người đó có căn cứ lo sợ rằng nếu không để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản thì sau một khoảng thời gian nhất định từ khi đe dọa sẽ bị gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người quản lý tài sản hoặc người thân của người đó.
Đe dọa sẽ dùng vũ lực là hành vi không xảy ra ngay tức khắc. Người đe dọa không có ý thức dùng ngay sức mạnh vật chất tấn công người quản lý tài sản và người bị đe dọa cũng nhận thức được người phạm tội không có ý thức dùng ngay sức mạnh thể chất nếu không đưa tài sản cho người phạm tội.
Theo đó, việc đe dọa chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị đe dọa mà chỉ hạn chế ở chỗ làm cho họ lo sợ ở một mức độ nhất định, đồng thời họ vẫn có hoàn toàn về mặt thời gian để lựa chọn các biện pháp chuẩn bị phòng về.
Việc đe dọa được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Đe dọa trực tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe dọa bằng lời nói, cử chỉ, hành động… công khai, trực tiếp với người bị hại.
+ Đe dọa gián tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe dọa thông qua các hình thức như: nhắn tin, điện thoại, thư… mà không gặp người bị hại.
– Hành vi khác uy hiếp tinh thần
Hành vi này được hiểu là dùng các thủ đoạn gây áp lực nhằm khống chế tinh thần của người bị hại để buộc họ phải giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt theo đòi hỏi mà người phạm tội đưa ra, kèm với việc dùng thủ đoạn đó.
Theo đó, các thủ đoạn thường thấy đó là lợi dụng những lỗi lầm của người bị hại mà người phạm tội biết được để nhằm đe dọa sẽ làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của họ (như dọa tố cáo bí mật đời tư, bới móc quá khứ, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật…).
* Về hậu quả:
Tội cưỡng đoạt tài sản là tội cấu thành hình thức do đó hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc để định tội, tức là dù người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay chưa nhưng đã thực hiện một trong các hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản là tội phạm đã hoàn thành.
Tuy nhiên, nếu gây ra hậu quả thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt nặng hơn hoặc là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.
Hình phạt đối với tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản có 4 khung hình phạt chính:
– Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
– Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm nếu hành vi cưỡng đoạt thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Tái phạm nguy hiểm.
– Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
– Khung 4: Phạt tù từ 12 đến 20 năm nếu thuộc vào một trong các trường hợp:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể chịu hình phạt bổ sung đó là:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
3. Tội cưỡng đoạt tài sản hoàn thành khi nào?
Vì tội Cưỡng đoạt tài sản là tội cấu thành hình thức nên thời điểm tội phạm này hoàn thành được tính từ khi người phạm tội thực hiện xong hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác kèm theo những đòi hỏi về việc giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt.
Nếu chỉ thuần túy đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần mà không có hay không gắn liền với yêu cầu về tài sản để chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm này.
Nếu người phạm tội mới có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện, kế hoạch… để đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
4. So sánh tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:
*Giống nhau:
Cả hai tội danh trên đều xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của con người, gián tiếp xâm phạm đến quyền nhân thân.
Chủ thể của tội phạm đều là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự
Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục địch nhằm chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác.
*Khác nhau:
| Tiêu chí | Tội cướp tài sản | Tội cưỡng đoạt tài sản |
| Căn cứ pháp lý | Điều 168 BLHS 2015 | Điều 170 BLHS 2015 |
| Hành vi khách quan | + Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. + Đe dọa dùng vũ lực trong tội cướp tài sản còn tính đến yếu tố “ngay tức khắc”, tức là, nó có tính chất mãnh liệt hơn làm cho người bị đe dọa thấy rằng khi bị đe dọa nếu họ không làm theo yêu cầu của người phạm tội thì người phạm tội sẽ dùng vũ lực ngay với mình và họ sẽ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. | + Đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác, buộc người có trách nhiệm về tài sản giao nộp tài sản nếu không giao nộp tài sản họ sẽ bị áp dụng dùng vũ lực hoặc sẽ bị gây thiệt hại đến nhân thân Đe dọa dùng vũ lực trong tội cưỡng đoạt tài sản thì có tính chất nhẹ hơn, người bị đe dọa cảm nhận được giữa hành vi đe dọa và việc dùng vũ lực có khoảng cách về thời gian. |
| Tình trạng nạn nhân | Không thể chống cự được Nạn nhân không có sự lựa chọn, bị tê liệt ý chí và tê liệt sự phản kháng, họ buộc phải thoả mãn yêu cầu của người phạm tội nhằm tránh bị người phạm tội tấn công “tức khắc”. | Nạn nhân chưa đến mức bị tê liệt ý chí chống cự của người bị đe dọa mà hành vi cưỡng chế chỉ có thể khống chế ý chí của họ. Người bị đe dọa còn có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để quyết định việc có trao tài sản cho người đe dọa hay không. |
| Hình phạt | Hình phạt nặng hơn Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. – Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: + Có tổ chức; + Có tính chất chuyên nghiệp; + Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; + Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; + Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; + Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; + Tái phạm nguy hiểm. – Phạt từ từ 12 năm đến 20 năm Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; + Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; + Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. – Phạt từ từ 18 năm đến 20 năm Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: + Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; + Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; + Làm chết người; + Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. – Người chuẩn bị phạm tội này bị phạt tù từ 01 đến 05 năm Về hình phạt bổ sung Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. | – Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. – Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm nếu hành vi cưỡng đoạt thuộc một trong các trường hợp sau: + Có tổ chức; + Có tính chất chuyên nghiệp; + Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; + Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; + Tái phạm nguy hiểm. – Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; + Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh – Khung 4: Phạt tù từ 12 đến 20 năm nếu thuộc vào một trong các trường hợp: + Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; + Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể chịu hình phạt bổ sung đó là: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” |
Trên đây là bài tư vấn của LUẬT HUY HOÀNG về tội cưỡng đoạt tài sản. Hy vọng bài viết mang đến thông tin bổ ích cho quý khách hàng. Mọi thắc mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ chúng tôi
5. Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng
Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết
Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu
Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án, …
Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.
Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:
