Đóng

Hình sự

31Th5

TỘI HIẾP DÂM THEO ĐIỀU 141 BLHS VIỆT NAM 2015

Trong thời gian qua các tội phạm liên quan đến tình dục đặc biệt là tội hiếp dâm đang được coi là một vấn đề nóng đang có xu hướng gia tăng và được dư luận xã hội rất quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn diễn ra trên khắp thế giới. Điều này đã, đang và sẽ xâm hại nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, thậm chí là gây nguy hại đến sức khỏe và tính mạng của nạn nhân. Vậy tội hiếp dâm bị xử lý như thế nào theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam? Hãy cùng Luật Huy Hoàng tìm hiểu vấn đê trên qua bài viết dưới đây.

1. Tội hiếp dâm là gì?

Hiếp dâm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm hại đến quyền được tôn trọng, bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của nạn nhân bằng hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Quy định của Bộ luật hình sự về tội hiếp dâm

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

“Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Cấu thành tội phạm tội hiếp dâm

Khách thể của tội phạm

Tội hiếp dâm xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, sức khỏe về thể chất và tinh thần của nạn nhân, gián tiếp xâm phạm tính mạng của nạn nhân.

Đối tượng tác động là người đủ 16 tuổi trở lên. Trường họp đối tượng tác động là người dưới 16 tuổi thì sẽ bị xử lý về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự 2015.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đối với tội phạm được quy định tại Khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự đối với tội phạm được quy định tại các Khoản 2, 3, 4 Điều 141 Bộ luật hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

Dựa vào mô tả của điều luật thì ta thấy hành vi khách quan của tội hiếp dâm thể hiện qua 2 dạng hành vi nối tiếp nhau.

Nhóm hành vi thứ nhất:

– Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của nạn nhân nhằm đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác. Ví dụ: vật ngã, xé quần áo, trói, …

– Đe dọa dùng vũ lực là dùng lời nói, cử chỉ, hành động đe dọa sẽ dùng sức mạnh vật chất xâm hại đến tính mạng, sức khỏe với ý thức làm nạn nhân tê liệt ý chí để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của họ.

– Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

+ Người bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật… dẫn đến không thể chống cự được);

+ Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác… dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).

– Thủ đoạn khác bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Nhóm hành vi thứ hai:

– Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào. Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

– Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

+ Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

+ Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Bên cạnh việc mô tả hành vi thì một yếu tố quan trọng nữa để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm đó là ý muốn của nạn nhân. Theo đó, cần phải xác định nếu người phạm tội thực hiện các hành vi trên nhưng nạn nhân không đồng ý thì mới phạm tội hiếp dâm, còn ngược lại thì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự mà có thể chỉ bị phạt hành chính. Việc xác định trái ý muốn hay không cần xem xét toàn diện các khía cạnh như: mối quan hệ giữa hai người; thủ đoạn thực hiện; hoàn cảnh khi xảy ra vụ việc, thái độ của nạn nhân trước và sau khi bị người phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Đối với tội hiếp dâm, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân, không phân biệt việc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đã kết thúc hay chưa.

Người bị hại phải là người từ đủ mười sáu tuổi trở lên. Trường hợp người bị hại dưới 16 tuổi thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.

Trường hợp hiếp dâm mà kèm theo việc giết nạn nhân hoặc gây thương tích cho nạn nhân với mức độ thương tích nhất định thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

Căn cứ Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người phạm tội tại Khoản 1 Điều 141 BLHS 2015 chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

 Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

3. Hình phạt đới với tội hiếp dâm:

Theo Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội hiếp dâm như sau:

Khung hình phạt tại khoản 1 Điều này, người phạm tội bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung hình phạt tại khoản 2: người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, nếu thuộc một trong các tội sau:

+ Thứ nhất, phạm tội có tổ chức;

+ Thứ hai, đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

+ Thứ ba, nhiều người hiếp một người;

+ Thứ tư, phạm tội 02 lần trở lên;

+ Thứ năm, đối với 02 người trở lên;

+ Thứ sáu, có tính chất loạn luân;

+ Thứ bảy, làm nạn nhân có thai;

+ Thứ tám, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

k) Tái phạm nguy hiểm.

+ Thứ chín, tái phạm nguy hiểm.

Khung hình phạt tại khoản 3: người phạm tội bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, nếu thuộc một trong các tội sau:

+ Thứ nhất, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Thứ hai, biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

+ Thứ ba gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

+ Thứ 4 làm nạn nhân chết hoặc tự sát

Khung hình phạt tại khoản 4: Trường hợp người phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Tuy nhiên, phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

Hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều này:

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội hiếp dâm

Căn cứ Điều 27 BLHS 2015 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.”

Và Điều 9 BLHS 2015 quy định về Phân loại tội phạm

Điều 9. Phân loại tội phạm

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

Có thể xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của tội hiếp dâm như sau:

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm thực hiện hành vi phạm tội tại Khoản 1 Điều này là 10 năm, tại Khoản 2 và Khoản 4 Điều này là 15 năm, tại Khoản 3 Điều này là 20 năm.

5. Dịch vụ pháp lý Luật Huy Hoàng

Với đội ngũ luật sư giỏi, giàu kinh nghiêm, LUẬT HUY HOÀNG tự hào là đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, tận tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Tư vấn hồ sơ vụ án, đánh giá tính chất hành vi vi phạm và đưa ra định hướng giải quyết

Cùng khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước, Tòa án khi có yêu cầu

Hỗ trợ soạn thảo văn bản, đơn từ, thay mặt khách hàng tranh tụng tại Tòa án, …

Cùng nhiều dịch vụ pháp lý khác.

Mọi thắc mắc cần giải đáp hoặc muốn trải nghiệm dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ chúng tôi theo thông tin sau:

LUẬT HUY HOÀNG
📞 Điện thoại: 0944580222
📧 Email: tuvan@luathuyhoang.vn
🌐 Website: https://luathuyhoang.vn/
🏘️ Địa chỉ:  Tầng 2, LK05 – Khu đô thị 54, ngõ 85 Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội